GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG HƯỚNG TỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI KHÁNH HÒA

Đăng lúc: Thứ năm - 28/12/2017 02:59 - Người đăng bài viết: NHNN-KH
Ngoài việc tiếp cận với tín dụng chính sách,người nghèo ở nông thôn vẫn đang thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ tài chính ngân hàng khác. Việc mở rộng mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng là việc làm rất có ý nghĩa bởi cải thiện mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng tạo ra nhiều cơ hội kinh tế cho người nghèo, là giải pháp tích cực hỗ trợ cho việc giảm nghèo, nâng cao đời sống cộng đồng.
      Qua việc đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho các người dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và đối tượng chính sáchnhằm hướng tới giảm nghèo bền vững.

      Đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương
      Khánh Hòa là tỉnh ven biển, ở vị trí trung tâm của các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, có diện tích tự nhiên là 5.217,6 km2; có vị trí địa lý kinh tế khá thuận lợi, nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không như Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam; Quốc lộ 26, 27B nối Khánh Hòa với các tỉnh Đăk Lăk, Lâm Đồng và có thể liên thông với các nước trong khu vực như Lào, Campuchia, Thái Lan; Sân bay quốc tế Cam Ranh; cảng Cam Ranh, cảng Nha Trang, cảng biển nước sâu Vân Phong là lợi thế so sánh mà ít địa phương nào có được.
      Dân số trung bình tỉnh Khánh Hòa năm 2016 là 1.213.767 người với 32 dân tộc đang sinh sống. Trong đó, dân số trong độ tuổi lao động (tương đương với dân số trưởng thành) năm 2016 khoảng 946.233 người, chiếm 77,96% dân số; trong đó dân số trưởng thành ở thành thị là 406.763 người, chiếm 74,62% dân số thành thị; ở nông thôn là 539.470 người, chiếm 80,67% dân số nông thôn. GRDP bình quân đầu người năm 2016 là 47,03 triệu đồng. Khánh Hòa là một trong những tỉnh có thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức bình quân chung của cả nước, năm 2016 gấp 1,25 lần, dự ước đến năm 2020 gấp 1,5 lần.

      Thực hiện chính sách giảm nghèo tại tỉnh Khánh Hòa
      Tỉnh Khánh Hòa xây dựng mục tiêu giảm nghèo cho giai đoạn 2016-2020,tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm bình quân từ 1,5% đến 2%/năm; Phấn đấu đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn dưới 2%;Cải thiện sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đến cuối năm 2020 gấp 1,5 lần so với cuối năm 2015, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo.
      Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, tỉnh Khánh Hòa đề ra 6nhóm chính sách: (i) Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao tay nghề, tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập; (ii) Chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục; (iii) Chính sách hỗ trợ về nhà ở; (iv) Chính sách hỗ trợ về điện sinh hoạt, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường; (v) Chính sách hỗ trợ tiếp cận về y tế;(vi) Chính sách hỗ trợ tiếp cận thông tin, trợ giúp pháp lý người nghèo.Trong đó, 4 chính sách có sự tham gia tích cực của ngành ngân hàng, chủ lực là Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh. Cụ thể:
      (i) Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao tay nghề, tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập: Giai đoạn 2012-2016, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải ngân cho vay các đối tượng chính sách 2.924 tỷ đồng, đến cuối năm 2016, dư nợ 2.050 tỷ đồng với 136.422 hộ. Trong đó, cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo phát triển sản xuất 1.417 tỷ đồng,đến cuối năm 2016, dư nợ 831 tỷ đồng với 37.527 hộ; cho vay 124 tỷ đồng tạo việc làm, dư nợ 205 tỷ đồng với 8.692 hộ. Mục tiêu đến năm 2020 sẽ cho vay trên 19.000 hộ nghèo, 18.000 hộ cận nghèo và 7.000 hộ thoát nghèo. Mức cho vay bình quân 30 triệu đồng/hộ nghèo, 35 triệu đồng/hộ cận nghèo và 40 triệu đồng/hộ thoát nghèo. Từ 2016 đến 2020, bình quân mỗi năm cho vay 8.800 hộ nghèo/cận nghèo/thoát nghèo.
      (ii) Chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục: Giai đoạn 2012-2016, đã cho vay hộ nghèo có học sinh, sinh viên đang đi học 385 tỷ đồng để trang trải kinh phí học tập, đến cuối năm 2016, dư nợ 358 tỷ đồng với 14.522 hộ.Mục tiêu đến năm 2020, dành 98,4 tỷ đồng cho vay 6.800 hộ.
      (iii) Chính sách hỗ trợ về nhà ở: Giai đoạn 2012-2016, đã cho vay các hộ nghèo 3,95 tỷ đồng xây mới, sửa chữa nhà ở.Đến cuối năm 2016, dư nợ 13 tỷ đồng với 1.362 hộ.Mục tiêu đến năm 2020, hỗ trợ xây mới, sửa chữa 1.000 nhà đối với hộ nghèo theo chuẩn mới.
       Ngoài ra, từ năm 2012 đến nay, ngân hàng hỗ trợ thực hiện công tác an sinh xã hội địa phương 58,8 tỷ đồng (xây 1.385 nhà tình nghĩa, 2 trường học, 270 con bò, 25 máy thông tin liên lạc cho ngư dân, học bổng cho học sinh nghèo,…)  (iv) Chính sách hỗ trợ về điện sinh hoạt, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường: Giai đoạn 2012-2016, đã cho vay các hộ nghèo 780 tỷ đồng để cải thiện tình trạng nước sạch và xây dựng nhà vệ sinh. Đến cuối năm 2016, dư nợ 628 tỷ đồng với 71.886 hộ. Mục tiêu đến năm 2020, cho vay 8.000 hộ nghèo với 96 tỷ đồng.

      Kết quả giảm nghèo tại tỉnh Khánh Hòa
      Việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của chương trình giảm nghèo về y tế, giáo dục, dạy nghề, nhà ở, vay vốn ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn,… đã trợ giúp phần lớn hộ nghèo, người nghèo được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, phát triển sản xuất, tăng thu nhập và thoát nghèo.
      Sau 10 năm (2006-2015) thực hiện các chính sách giảm nghèo, tỉnh Khánh Hòa đã giảm 29.738 hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm 1,39%. Đến cuối năm 2015, số lượng hộ nghèo là 4.000 hộ, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 1,42%. Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 9,68% vào đầu năm 2016 giảm xuống còn 7,44% vào cuối năm 2016.

      Vai trò của tổ chức tín dụng đối với công tác giảm nghèo
      Trong thời gian qua, hệ thống tổ chức tín dụng đã luôn đồng hành cùng với chính quyền địa phương trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo thông qua các hoạt động cấp tín dụng cho người nghèo, người có thu nhập thấp, cá nhân, hộ gia đình; các hoạt động an sinh xã hội,...
      - Hỗ trợ vốn vay để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống
       Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, tỷ lệ hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, kinh doanh chiếm đến 54,38%/tổng số hộ nghèo. Vốn vay từ các tổ chức tín dụng là một trong những kênh quan trọng giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đầu tư phát triển sản xuất, có được “cần câu” để giải quyết khó khăn trong cuộc sống, phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống; giảm tình trạng cho vay lãi nặng, tín dụng “đen”. Trongkhu vực chính thức, cáctổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô gồm Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay các đối tượng chính sách; các Quỹ tín dụng nhân dâncho vay thành viên; và các ngân hàng thương mại,tập trung chủ yếu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT), cho vay hộ sản xuất kinh doanh.Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT, Ngân hàng Chính sách Xã hội có điểm giao dịch tới tận các xã. Phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội, Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp &PTNT xây dựng được 543 tổ vay vốn, và Chi nhánh ngân hàng Chính sách Xã hội có 2.606 tổ tiết kiệm và vay vốn. Với mạng lưới rộng khắp, ngân hàng đã đưa vốn tín dụng đến tay người nghèo, vùng sâu vùng xa theo các chương trình kinh tế, cho vay ưu đãi, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
      Trên địa bàn tỉnh, hiện có 4 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đang hoạt động với 6.488 thành viên, chủ yếu là những hộ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và những hộ kinh doanh, dịch vụ và buôn bán nhỏ. Giai đoạn 2012-2016, các QTDND đã cho thành viên vay 372 tỷ đồng. Đến cuối năm 2016, dư nợ cho vay là 78,86 tỷ đồng với 3.578 cá nhân và 2 pháp nhân, trong đó cho vay sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 45 tỷ đồng (chiếm 57,14%), thương nghiệp 14 tỷ đồng (17,90%), tiêu dùng 20 tỷ đồng (24,96%). Hoạt động của các QTDND góp phần cải thiện đời sống các hộ gia đình thành viên, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế tại địa bàn hoạt động.
Có 01 dự án tài chính vi mô đang hoạt động là Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh Khánh Hòa do Hội nông dân tỉnh quản lý, Đến 31/12/2016, tổng nguồn vốn 10,8 tỷ đồng, trong đó, ngân sách tỉnh cấp 10 tỷ đồng;tổng dư nợ là 8,3 tỷ đồng cho 41 dự án với 386 hộ được vay.
      - Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước rất chú trọng đến việc phát triển tín dụng nông nghiệp, nông thôn; xây dựng hệ thống cơ chế chính sách khá đồng bộ, hỗ trợ tín dụng nông thôn phát triển; nâng cao năng lực của các định chế tài chính, nhất là các định chế tài chính hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Các Chi nhánh TCTD đã thể hiện vai trò, trách nhiệm trong thực hiện chủ trương đầu tư cho tam nông, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Số lượng các TCTD tham gia cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng tăng, hiện có 35/42 tổ chức tín dụng trên địa bàn cho vay nông nghiệp, nông thôn. Dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn liên tục tăng mạnh. Sau hai năm triển khai Nghị định 55, đến 30/6/2017, dư nợ cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn trên địa bàn đạt 8.302 tỷ đồng với 37.264 hộ gia đình, cá nhân, 5 trang trại, 7 hợp tác xã và 483 doanh nghiệp; chiếm 14,18% tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh, so với cuối tháng 6/2015 tăng 3.917 tỷ đồng với 89,33%, cao hơn tăng trưởng dư nợ cho vay toàn tỉnh là 56,76%, chiếm tỷ trọng 14,18% dư nợ cho vay nền kinh tế. Đối tượng được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng tăng đã thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu. Vốn cho vay đã tạo thêm nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ.
      - Xây dựng nông thôn mới
Với vai trò trung gian tín dụng, các tổ chức tín dụng đã có những đóng góp nhất định vào sự thành công của Chương trình xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết vấn đề việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, cải thiện đời sống của nhân dân ở khu vực nông thôn, giúp người dân tự vươn lên xoá đói giảm nghèo.Tại Khánh Hòa, việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới đã thu được những kết quả tích cực. Doanh số cho vay xây dựng nông thôn mới từ năm 2012 đến tháng 6/2017 là 25.216 tỷ đồng, trong đó cho vay các hộ sản xuất kinh doanh là 8.493 tỷ đồng, cho vay làm đường nông thôn 107 tỷ đồng. Dư nợ cho vay 4.074 tỷ đồng với 121 doanh nghiệp và 55.332 hộ dân, chiếm tỷ trọng 49,07% trong tổng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn; so với cuối năm 2012, từ khi bắt đầu chương trình, dư nợ tăng 3.818 tỷ đồng với 93,69%.
Năm 2016, toàn tỉnh có 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đến cuối năm 2016, có 29,8% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, tương đương 28/94 xã; không còn xã dưới 5 tiêu chí. Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân chung của toàn tỉnh là 12,65 tiêu chí/xã.
      - Tạo dựng tài sản, cải thiện điều kiện sống và tiếp cận dịch vụ giáo dục
Hiện nay, các dịch vụ ngân hàng phát triển khá đa dạng như: cho vay, tiết kiệm, thanh toán,… Các hoạt động này không chỉ giúp người nghèo tạo dựng công việc, sản xuất kinh doanh mà còn giúp họ nâng cao nhận thức về tài chính cá nhân, giảm thiểu rủi ro về kinh tế và cuộc sống, tăng thu nhập hộ gia đình. Nhờ tăng thu nhập, người nghèo có tích lũy tài sản, tiết kiệm, tăng khả năng vay vốn để tái đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở.
Bên cạnh đó, nhờ tiết kiệm và tài sản được tích lũy, người nghèo có thêm điều kiện để quan tâm đến dinh dưỡng, cải thiện điều kiện sống; chăm lo cho con em tiếp cận dịch vụ giáo dục với thời gian dài hơn và đầu tư nhiều hơn; có những kế hoạch dài lâu và định hướng cho tương lai.

      Thực trạng cung ứng dịch vụ ngân hàng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
      - Mạng lưới giao dịch ngân hàng
Đến cuối năm 2016, trên địa bàn tỉnh có 37 Chi nhánh TCTD và 4 Quỹ tín dụng nhân dân, với 156 điểm giao dịch ngân hàng và 317 máy ATM. Cụ thể: Thành phố Nha Trang 97 điểm giao dịch, 241 máy ATM; Thành phố Cam Ranh18 điểm giao dịch, 30 máy ATM; Thị xã Ninh Hòa  14 điểm giao dịch, 14 máy ATM; Huyện Vạn Ninh 9 điểm giao dịch, 7 máy ATM; Huyện Diên Khánh 8 điểm giao dịch, 13 máy ATM; Huyện Cam Lâm 6 điểm giao dịch, 10 máy ATM; Huyện Khánh Vĩnh 2 điểm giao dịch, 2 máy ATM; Huyện Khánh Sơn 2 điểm giao dịch.
      - Tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng tại tỉnh Khánh Hòa
  • Mở tài khoản thanh toán: Có 38.428 tài khoản thanh toán của tổ chức và 685.550 tài khoản cá nhân. Số lượng khách hàng cá nhân mở tài khoản thanh toán có kết hợp sử dụng các dịch vụ thanh toán cho các mục đích như: thanh toán tiền điện 18.916 tài khoản, chiếm 2,76%; cước điện thoại, truyền hình, internet 4.550 tài khoản, chiếm 0,66%; tiền nước 4.263 tài khoản, chiếm 0,62%; nộp thuế 3.673 tài khoản, chiếm 0,5%; và sử dụng các dịch vụ khác 1.977 tài khoản, chiếm 0,29%.
      Sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử: dịch vụ SMS có 265.720 tài khoản, chiếm 38,8%, Internet banking 210.660 tài khoản, chiếm 30,7%, Mobile banking 23.900 tài khoản, chiếm 3,5%, Phone banking 1.610 tài khoản, chiếm 0,2%, mobile POS 446 tài khoản, chiếm 0,1% và dịch vụ khác 9.783 tài khoản, chiếm 1,4%.
  • Trả lương qua tài khoản cho cán bộ công nhân viên: Đến cuối năm 2016, có 1.161/1.341 đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đạt tỷ lệ 86,58%, thực hiện trả lương qua tài khoản cho 48.412/50.743 cán bộ công nhân viên. Tỷ lệ cán bộ công chức được trả lương qua tài khoản đạt 95,41% trong tổng số cán bộ công chức c
  • Dịch vụ huy động vốn: có 442.930 khách hàng gửi tiết kiệm. Trong đó, khu vực thành thị có 320.813 khách hàng, chiếm 72,43%; khu vực nông thôn 122.117 khách hàng, chiếm 27,57%. Số khách hàng gửi tiết kiệm kết hợp với các dịch vụ khác: dịch vụ bảo hiểm 554 khách hàng, chiếm 0,13%; bảo lãnh du học 27 khách hàng, chiếm 0,01%; sản phẩm dịch vụ khác 234 khách hàng, chiếm 0,05%.
  • Dịch vụ cho vay: Đến cuối năm 2016, trên địa bàn tỉnh, có 229.245 khách hàng vay vốn tại các TCTD; có 2.900 khách hàng là doanh nghiệp, trong đó có 2.441 DNNVV, chiếm 84,2%; có 226.345 khách hàng cá nhân chiếm 98,9%. Khu vực nông thôn có 139.230 khách hàng cá nhân, chiếm 61,5%; khu vực thành thị 87.115 khách hàng chiếm 38,5%. Vay sản xuất kinh doanh 179.860 cá nhân, chiếm 79,5%; vay tiêu dùng 46.485 cá nhân, chiếm 20,5%.
      Phương thức giao dịch: Giao dịch theo phương thức truyền thống (trực tiếp tại điểm giao dịch ngân hàng) là chủ yếu, có 438.370 khách hàng, chiếm 98,97%; phương thức giao dịch trực tuyến có 4.560 khách hàng, chiếm 1,03%.
      Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người dân
      Theo nghiên cứu, các yếu tố khoảng cách địa lý, vùng miền; thu nhập; trình độ dân trí; sự phát triển hệ thống của công nghệ thông tin có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người dân, đặc biệt là dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa và hộ nghèo.
      - Khoảng cách địa lý, vùng miền cản trở rất lớn đối với dân cư nông thôn và hộ nghèo trong việc tiếp cận với dịch vụ ngân hàng. Càng ở xa trung tâm thành phố thì khả năng tiếp nhận thông tin bị cản trở, mất nhiều thời gian và tăng chi phí cho việc đi lại giao dịch của các TCTD. Hoạt động ngân hàng ở khu vực  nông thôn ít hiệu quả.Vì vậy, các TCTD không muốn mở rộng mạng lưới đến khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, với các dịch vụ ngân hàng dựa trên công nghệ hiện đại, cả ngân hàng và khách hàng đều có khả năng thỏa thuận với nhau về phương thức cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng thì khoảng cách về không gian và thời gian được rút ngắn.
      - Trình độ dân trí của một số người dân thành thị và nông thôn chưa cao, đặc biệt là về kiến thức tài chính cá nhân. Đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của dân cư nông thôn và hộ nghèo còn hạn chế. Tâm lý người dân nông thôn vẫn thích cất giữ tiền mặt, vàng, tài sản ở nhà mà không cần đến dịch vụ của ngân hàng.
      - Thu nhập đối với người nghèo thu nhập thấp và nhu cầu chi tiêu của họkhông lớn, do đó nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng chưa cao.
       - Tính đa dạng, phù hợp của sản phẩm dịch vụ: Các sản phẩm dịch vụ dành cho khu vực nông thôn chưa đa dạng, chưa phù hợp với nhu cầu sinh sống của người dân ở các địa bàn khác nhau.Thiếu các sản phẩm, dịch vụ tài chính thiết kế phù hợp cho khu vực nông thôn, người nghèo. Quy định về hồ sơ, thủ tục chưa thật sự đơn giản, dễ hiểu, chi phí giao dịch, mức phí dịch vụ là các rào cản từ phía ngân hàng. Hoạt động của các tổ chức tài chính nông thôn vẫn chỉ bó hẹp ở dịch vụ cho vay mà chưa khai thác được các hoạt động khác như tiết kiệm, thanh toán mặc dù tiềm năng của những dịch vụ này còn rất lớn.

      Các giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh
      Giải pháp từ Chính phủ,chính quyền địa phương,các Bộ ngành liên quan, các tổ chức chính trị xã hội
      Chính phủ cần thực hiện đồng bộ các chính sách phát triển kinh tế xã hội, nâng cao trình độ dân trí, thu nhập của người dân.
      Nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng các vùng kinh tế chuyên canh nhằm hướng tới một nền nông nghiệp được chuyên môn hóa cao. Hình thành những chuỗi giá trị trong nông nghiệp, đem lại lợi ích cho tất cả các bên.
      Tăng cường nguồn vốn dành cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để cho vay các đối tượng chính sách, góp phần thực hiện công tác giảm nghèo, tạo việc làm trên địa bàn theo phương châm ưu tiên đầu tư cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại vùng khó khăn, huyện nghèo, xã nghèo, giúp người vay có vốn sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập.
      Công tác giáo dục, tuyên truyền: Xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình phổ biến kiến thức cơ bản về tài chính, ngân hàng nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về dịch vụ ngân hàng. Việc nâng cao nhận thức về tài chính cá nhân sẽ là động lực thúc đẩy phát triển các sản phẩm dịch vụ  tài chính ngân hàng trên thị trường như tiết kiệm, tiêu dùng, bảo hiểm, các sản phẩm đầu tư tài chính; góp phần nâng cao hiệu quả  hoạt động của thị trường tài chính cũng như sự phát triển bền vững của xã hội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các cá nhân.
      Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ các hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn, như tuyên truyền chính sách vay vốn đến từng hộ gia đình, hỗ trợ hoạt động của các tổ cho vay lưu động của các ngân hàng. Vốn cho vay cần gắn kết với các chương trình phát triển kinh tế của địa phương, có hướng dẫn giúp người dân xây dựng phương án sử dụng đồng vốn hợp lý để quản lý nợ và rủi ro. Đẩy mạnh công tác tư vấn, khuyến nông, khuyến công, hỗ trợ người dângiảm thiểu rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội tham gia vào quá trình nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng ở nông thôn; Thông qua các tổ chức này, người dân được thông tin đầy đủ, rõ ràng về tính thuận tiện, lợi íchcủa các dịch vụ ngân hàng.
          Giải pháp từ Ngân hàng Nhà nước
      Xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách, tạo lập môi trường thuận lợi hỗ trợ các tổ chức tín dụng phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nhất là sản phẩm dịch vụ ngân hàng phi tín dụng. Từ đó, tạo điều kiện người dân và doanh nghiệp, nhất là các đối tượng chính sách tiếp cận dịch vụ ngân hàng một cách bền vững.
      Phát triển hệ thống các tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức có khả năng thu hút nhiều cá nhân, hộ gia đình tham gia để phục vụ những đối tượng chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
      Khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới hoạt động, thành lập chi nhánh, phòng giao dịch, ngân hàng đại lý hoạt động đến các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
      Bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích và sự phát triển bền vững của hệ thống các tổ chức tín dụng.
        Giải pháp của các tổ chức tín dụng
    Ngoài các giải pháp về chính sách của Nhà nước, các ngân hàng thương mại cần phải chủ động xây dựng các chính sách, định hướng hoạt động phù hợp.
    Tiếp tục phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch đến các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, phù hợp với nhu cầu kinh tế tại địa phương và định hướng kinh doanh của tổ chức tín dụng. Mở rộng kênh cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nâng cao số lượng và chất lượng các kênh phân phối tự động, kênh cung ứng dịch vụ từ xa như dịch vụ ngân hàng điện tử,… Phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc giao dịch với ngân hàng, khắc phục hạn chế về mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch.
Phát triển sản phẩm tiết kiệm, tín dụng, thanh toán,…  phù hợp với nhu cầu khác nhau của người dân, doanh nghiệp. Đa dạng các dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông, đáp ứng nhu cầu tài chính toàn diện của khách hàng.Nghiên cứu, xếp hạng khách hàng để cung ứng những sản phẩm dịch vụ phù hợp.
    Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực thế mạnh, trong đó tập trung cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhằm tạo ra sự lan tỏa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực.
    Đẩy mạnh cải cách hành chính, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có thủ tục đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhu cầu của đại bộ phận dân cư ở nông thôn.  Đổi mới, chuẩn hóa quy trình giao dịch, giảm thiểu hồ sơ thủ tục theo hướng một cửa, tiết giảm chi phí, thời gian giao dịch,… tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng. Đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật.
    Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ tư vấn về tài chính, tín dụng nhằm hỗ trợ người dân trong việc xây dựng phương án kinh doanh hiệu quả, bền vững.
    Chủ động phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong quá trình cung ứng dịch vụ tại khu vực nông thôn.
    Tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn, bảo mật trong giao dịch ngân hàng điện tử. Làm tốt công tác chăm sóc khách hàng, kịp thời hỗ trợ giải quyết các sự cố, yêu cầu tra soát, khiếu nại của khách hàng.
    Tăng cường hoạt động tiếp thị,đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến đông đảo người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
    Nâng cao trình độ và nghiệp vụ, đạo đức, tác phong nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên ngân hàng, tạo ấn tượng tốt cho khách hàng thông qua sự chuyên nghiệp trong tác phong, sự thân thiện trong tiếp xúc cùng với kỹ năng tư vấn hiệu quả.
    Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình an sinh xã hội, góp phần thiết thực giúp người dân cải thiện điều kiện sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, giảm nghèo đa chiều bền vững.
      Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh
    - Nâng cao chất lượng hoạt động các điểm giao dịch tại xã, đặc biệt tại các xã nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục triển khai và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ, hỗ trợ có hiệu quả hơn cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác; tăng khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng tại nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
    - Đẩy mạnh cung ứng các sản phẩm nhận tiền gửi tiết kiệm theo đặc thù riêng của Ngân hàng Chính sách xã hội, tạo điều kiện cho người nghèo có thể tiết kiệm, tạo lập vốn tự có; từng bước tiếp cận và đẩy mạnh nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
    - Phối hợp với các Sở ngành, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương, đặc biệt là Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên... triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến với người dân; thực hiện các chương trình tín dụng chính sách gắn kết chặt chẽ với các chương trình phát triển kinh tế của địa phương, giúp người vay sử dụng vốn có hiệu quả để thoát nghèo bền vững.
    - Đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng nhằm nâng cao khả năng tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách trong việc xây dựng phương án sản xuất và kỹ năng quản lý tài chính cá nhân.
    Bên cạnh việc bảo đảm nguồn vốn, sự quan tâm, tích cực vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cũng là yếu tố quan trọng để các chương trình cho vay, chính sách giảm nghèo phát huy hiệu quả./.
 
Tác giả bài viết: Nguyễn Hoài Chiểu, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Ban biên tập trang Thông tin điện tử

Ban biên tập trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Khánh Hoà được Kiện toàn theo Quyết định số 43/QĐ-KHH ngày 29/3/2018, bao gồm:1. Ông Nguyễn Hoài Chiểu, Giám đốc chi nhánh, Trưởng Ban biên tập2. Ông Đỗ Trọng Thảo, Phó giám đốc, Phó trưởng Ban biên tập3. Bà Huỳnh Thị Kim...

Thông tin khác

Lịch tiếp công dân
Cải cách hành chính
Số điện thoại đường dây nóng 0258.3.827.161 và 0258.3.822.157
Lịch sử tiền Việt Nam
Nhận biết tiền giả
Hệ thống các tổ chức tín dụng.
Thủ tục hành chính dịch vụ công.
Hệ thống Máy POS, ATM

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 16
  • Hôm nay: 2230
  • Tháng hiện tại: 71247
  • Tổng lượt truy cập: 2678384

Liên kết Website